Hiển thị các bài đăng có nhãn LINH-VUC-XE-HOI. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn LINH-VUC-XE-HOI. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 7 tháng 12, 2015

Lịch sử hình thành và phát triển vượt bậc của Mercedes-Benz

<BRANDSHISTORY.COM> Khi bạn nghĩ đến sự hoàn hảo trong ngành công nghiệp ô tô, bạn sẽ nghĩ ngay đến Mercedes-Benz. Mercedes-Benz đã chứng minh mình là một trong những nhà sản xuất ô tô hàng đầu thế giới với những chiếc xe cao cấp chất lượng cao. Không có hãng xe nào có thể sản xuất được nhiều loại xe cùng lúc như xe hạng sang, xe bus, van, xe tải và SUV và thậm chí là cả trong lĩnh vực xe đua như Mercedes-Benz đang làm.


Lịch sử hình thành và phát triển vượt bậc của Mercedes-Benz


Nguồn gốc của Mercedes-Benz được bắt nguồn từ những năm 1880 do 2 người đàn ông là Gottlied Dainler và Karl Benz. Hai ông đã phát minh ra xe chạy bằng động cơ đốt trong. Một điều khá thú vị là cả hai ông đều chưa hề biết nhau mặc dù công việc của hai ông có liên hệ trực tiếp với nhau. Cả hai ông đều ở tại vùng Tây Nam nước Đức.

Daimler và bạn ông là Wilhelm Maybach đã cùng nhau sáng chế ra động cơ 4 kỳ tại Cannstatt, một quận của Stuttgart. Họ làm việc mà không hề biết rằng một ngày nào đó họ sẽ trở thành người sáng tạo ra những xe hơi hạng sang. Ngược lại, Benz làm việc tại Mannheim gần Heidelberg. Theo những tài liệu lịch sử thì 2 ông thậm chí chưa hề gặp mặt nhau.

Đầu những năm 1890, Daimler sản xuất những chiếc xe của mình tại Unterturkeim. Những chiếc xe này nhanh chóng trở lên nổi tiếng đến nỗi một thương nhân người Áo tên là Emil Jellinek mang xe tham dự các cuộc đua và thường giành chiến thắng. Ông quyết định đặt tên những chiếc xe này theo tên con gái ông, Mercedes. Ông rất ấn tượng với công việc của Daimler và Maybach và quyết định đặt hàng với số lượng lớn. Điều kiện ông đưa ra là ông sẽ quyết định một vài chi tiết thiết kế và những chiếc xe này phải được đặt theo tên con gái ông là Mercedes. Ngoài ra, ông cũng yêu cầu được toàn quyền bán lại những chiếc xe này tại những nước Áo, hungary, Pháp, Bỉ và Mỹ. Ông rất tin tưởng vào những chiếc xe này và quyết định đầu tư một phần lớn vốn vào công ty.




Việc sử dụng tên Mercedes cho những chiếc xe sẽ giúp loại trừ những vấn đề về pháp lý. Trước khi gặp Emil Jellinek, Daimler đã bán quyền sử dụng tên và thiết kế của mình cho những công ty nước ngoài. Đây là lý do tại sao những chiếc xe cao cấp được sản xuất trước đây và hiện nay vẫn mang tên Daimler.

Trước đây, hai người góp phần quan trọng trong việc phát triển xe sang trọng không cùng làm việc trong cùng một công ty. Thật ra, họ còn là đối thủ của nhau trên thương trường. Daimler sở hữu công ty riêng của mình là Daimler Motorengesellschaft và Benz sở hữu công ty Benz and Cie. Thời kỳ khủng hoảng kinh tế trong những năm 1920 đã tạo áp lực buộc 2 công ty phải kết hợp lại. Năm 1926, 2 công ty sáp nhập và lấy tên là Daimler-Benz AG. Tại thời điểm này, công ty đang sảnh xuất xe ôtô mang thương hiệu Mercedes và xe tải.

Logo của công ty, giống như chiếc xe, cũng trở thành biểu tượng cho sự sang trọng. Khi bạn nhìn thấy logo của Mercedes, bạn sẽ nghĩ ngay đến sự hoàn hảo và đẳng cấp. Logo của công ty có hình ngôi sao 3 cánh bằng bạc và bao quanh là một vòng tròn. Logo này biểu trưng cho những ước vọng ban đầu của Daimler là tạo ra những chiếc xe nhỏ, manh mẽ và đáng tin cậy. Chúng còn có nghĩa là có thể đi trên đường, biển và không trung.


Lịch sử hình thành và phát triển vượt bậc của Mercedes-Benz


Mercedes nổi tiếng là nhà sản xuất ô tô và động cơ ô tô hàng đầu, tuy nhiên nó cũng chế tạo động cơ cho tàu thuyền và máy bay. Những chiếc máy bay này chỉ được dùng vào mục đích quân sự và dân sự.

Những chiếc ôtô của Mercedes-Benz cũng nổi tiếng khắp thế giới như là một trong những chiếc xe tốt nhất. Họ thường chú trọng vào mục tiêu chất lượng hơn là số lượng và tập trung ứng dụng những công nghệ mới nhất vào những chiếc xe của mình. Do đó, những chiếc Mercedes thường có những tính năng mà phải mấy năm sau các hãng sản xuất khác mới có thể trang bị trên xe của mình. Chính vì lý do này mà những chiếc Mercedes thường đắt hơn so với những chiếc xe khác. Mercedes đã tạo được tên tuổi của mình nhờ chất lượng và độ tin cậy mà không có một hãng xe nào có thể so sánh được.

Từ lâu, Mercedes đã trở thành phương tiện đi lại quen thuộc của giới quý tộc, thượng lưu bao gồm cả chính khách và những người nổi tiếng. Bất cứ ai có quyền lực thường được thấy sử dụng một chiếc Mercedes nào đó. Mercedes cũng rất nổi tiếng với những chiếc limousine của mình. Những ai ngồi trên một chiếc limousine của Mercedes thường được cho là người quan trọng một phần cũng nhờ chiếc xe này. Khi một người trở lên giàu có thì họ thường quyết định mua một chiếc Mercedes để chứng minh được sự giàu có của mình.

Lịch sử hình thành và phát triển vượt bậc của Mercedes-Benz

Về lĩnh vực công nghệ, Mercedes luôn là một trong những nhà sản xuất đầu tiên giới thiệu công nghệ kỹ thuật mới, ví dụ như hệ thống chống bó phanh và kỹ thuật phun xăng. Tuy nhiên, đôi khi Mercedes lại đi quá xa và điều này tốn của họ nhiều tiền. Ví dụ như gần đây, Mercedes giới thiệu một hệ thống phanh chủ động và nó đã được lắp đặt trên hơn 600.000 chiếc xe của hãng. Tuy nhiên, hệ thống này gặp sự cố và một cuộc thu hồi xe quy mố lớn diễn ra làm công ty mất hàng trăm triệu USD. Ngoài ra, uy tín về sự đáng tin cậy lâu nay của Mercedes cũng bị giảm sút nghiêm trọng. Vì lý do này mà Mercedes đã đầu tư rất nhiều vào việc làm cho những chiếc xe của họ trở lên tốt nhất và đáng tin cậy nhất thế giới. Nhờ sự đầu tư này mà trong những năm qua, Mercedes đã phần nào lấy lại được uy tín của mình.
Một lĩnh vực khác mà Mercedes cũng tham gia là các cuộc đua ôtô và nhanh chóng trở nên nổi tiếng. Đầu những năm 1900, Mercedes cho ra mắt chiếc Simplex. Đây là chiếc xe đua đầu tiên do hãng chế tạo. Gầm của xe được hạ thấp hơn và động cơ được tinh chỉnh để đạt được công suất tối đa. Nhờ những điểm vượt trội trong cách thiết kế, Simplex đã thống trị các cuộc đua ô tô trong nhiều năm liên tiếp.

Lịch sử hình thành và phát triển vượt bậc của Mercedes-Benz


Trong những năm 1930, Mercedes thống trị cuộc đua Grand Prix tại châu Âu nhờ những chiếc “Mũi tên bạc”. Năm 1952, Mercedes cho ra mắt chiếc Gullwing 300 SL và ngay lập tức, nó liên tục giành chiến thắng tại các giải đua quan trọng như Le Mans 24 giờ và Carrera Panamericana. Năm 1954, Mercedes bắt đầu tham gia các giải đua Công thức 1 và giành được nhiều thắng lợi.

Bi kịch xảy đến với Mercedes năm 1955. Trong giải đua Le Mans năm đó, một chiếc 300 SLR của Mercedes va chạm với một chiếc xe khác và bay lên khán đài làm 80 khán giả thiệt mạng. Đây là lý do đội Mercedes xin rút lui khỏi các giải đua vào cuối năm 1955. Họ quá sốc trước thảm kịch này và quyết định nghỉ ngơi một thời gian.

Sau đó, công ty quyết định cho những chiếc limousin của mình tham dự các giải đua rally trong những năm 60 và 80. Đến cuối những năm 1980, Mercedes mới quay trở lại các giải đua ô tô thể thao. Trong lần trở lại này, chiếc W201 190 mới của Mercedes đã phá vỡ 3 lỷ lục thế giới. Tại cuộc đua này, chiếc W201 190 đã chạy liên tục trong 201 giờ và chỉ dừng lại tại đường pit mỗi 2 giờ trong một khoảng thời gian rất ngắn (dưới 1 phút). Xe đã chạy hơn 50.000 km với tốc độ tối đa là 247 km/h.

Năm 1993, Mercedes quay trở lại giải đua Công thức 1. Họ quay trở lại với tư cách là hãng cung cấp động cơ cho đội đua F1 Sauber. Tại đây, Mercedes đã giới thiệu động cơ 10 xylanh được hế tạo bởi Ilmor. Năm 1995, động cơ này có mặt trên những chiếc McLaren thay cho động cơ của Peugeot. Mercedes quyết định mua lại Ilmor vào năm 1996 và nó trở thành chi nhánh của Mercedes-Benz.

Lịch sử hình thành và phát triển vượt bậc của Mercedes-Benz

Năm 1994 đánh dấu sự thay đổi trong cách đặt tên xe của Mercedes. Theo đó, tên mã của động cơ sẽ được đặt sau tên của dòng xe đó, ví dụ như 500E đổi thành E500.

Năm 1997, David Coulthard mở đầu cho những chiến thắng liên tiếp của Mercedes với đội đua được đặt tên là McLaren Mercedes. David Coulthard thắng một trong những chặng đầu tiên của mùa giải 1997. Đây là chiến thắng đầu tiên của Mercedes trong cuộc đua Công thức 1 kể từ sau chiến thắng của Juan Manuel Fangio năm 1955. Mercedes cũng rất thành công trong năm 1998 và 1999. Kể từ đó, đội đua F1 của Mercedes không còn giành được những chiến thắng như trước do nhiều tay đua chủ lực của đội nghỉ hưu. Tuy nhiên, Mercedes vẫn giành được 4 chiến thắng trong 3 năm sa sút này. Năm 2005 là một năm thành công của Mercedes khi chiến thắng 10 trong số 19 chặng của mùa giải.

Mercedes đã kết hợp với McLaren để sản xuất ra những chiếc siêu xe, mà tiêu biểu là chiếc Mercedes-Benz SLR McLaren được sản xuất năm 1993. Xe được trang bị động cơ siêu nạp 8 xylanh dung tích 5.51 lít công suất 500 mã lực và momen xoắn cực đại đạt 780 Nm. Với động cơ mạnh mẽ này, SLK McLaren có thể đạt tốc độ tối đa 330 km/h và xe có giá khoảng $500.000 tại thị trường châu Âu.

Lịch sử hình thành và phát triển vượt bậc của Mercedes-Benz

Ngày nay, theo xu hướng phát triển nhanh của thế giới, Mercedes cũng đang tiến hành những thay đổi cần thiết để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và cũng để khẳng định vị trí hàng đầu của mình trong ngành công nghiệp ôtô thế giới.

Sưu tầm

Thứ Tư, 25 tháng 11, 2015

Cadillac: Chạy theo xe giá rẻ, thương hiệu trăm năm tan thành mây khói

Từ một thương hiệu xe hơi hạng sang ngang hàng với Mayback hay Bentley, Cadillac đã tuột dốc không phanh không chỉ trong doanh thu hay lợi nhuận, mà còn gần như bước ra khỏi ý niệm về một dòng xe cao cấp trong tâm trí khách hàng.


Cadillac: Chạy theo xe giá rẻ, thương hiệu trăm năm tan thành mây khói

Cho đến nay, tuy đã nỗ lực tái thiết lập thương hiệu trong suốt 2 năm, cái tên Cadillac vẫn chưa bao giờ có thể trở về thời kỳ hoàng kim như ngày trước, thậm chí giới chuyên môn còn cho rằng, nếu Cadillac có giẫm chân và trượt dài theo vết xe đổ khi xưa của Parkard – đối thủ bị chính hãng xe này đánh bại, thì cũng không phải là một điều quá đỗi ngạc nhiên.
Ảo tưởng về phiên bản giá thấp
Cả Parkard và Cadillac đều có một lầm tưởng giống nhau về việc các mẫu xe giá rẻ sẽ giúp cứu vãn được tình hình doanh số của hãng, đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế khi khách hàng không thể chi trả quá nhiều cho những dòng xe hạng sang.
Tuy nhiên, cái giá phải trả của cả hai tên tuổi sừng sỏ trên đất Mỹ đều quá đắt: không những doanh số không được cải thiện mà còn đưa thương hiệu chìm sâu vào khủng hoảng.
Vào đầu thế kỷ XX, Packard là thương hiệu xe sang trọng bậc nhất thế giới. Khi đó, Cadillac chưa bao giờ được xếp ngang hàng với Packard. Năm 1915, Parkard giới thiệu dòng xe Twin-Six Packard, một trong những loại xe 12 xi-lanh đầu tiên trên thế giới. Nó lập tức trở thành loại xe được đông đảo người tiêu dùng Mỹ yêu thích.
Người Mỹ gọi Parkard là "Rolls-Royce của Mỹ". Parkard là điểm sáng trên thị trường. Doanh số cao hơn Cadillac rất nhiều lần. Từ năm 1925 cho đến năm 1934, số lượng xe Packard bán ra gần gấp đôi so với Cadillac.
Năm 1934, nước Mỹ rơi vào khủng hoảng tài chính. Dòng xe hạng sang Packard bị sụt giảm doanh số bán hàng (cho dù doanh số vẫn vượt trội hơn so với Cadillac). Điều đáng nói là động thái tiếp theo của Packard: Họ đã tung ta một phiên bản giá thấp hơn để tăng doanh số.
Năm 1935, Packard giới thiệu dòng xe Parkard 120, dòng xe đánh vào thị trường trung lưu. Doanh số xe bán ra tăng vọt, gấp 5 lần so với số lượng xe bán ra hàng năm. Chiến thuật tạo ra phiên bản giá thấp đã có tác dụng.
Tuy nhiên, sau đó, thương hiệu Parkard dần bị mai một. Người tiêu dùng dần cho rằng Packard chỉ là một loại xe tầm trung bình. Điều này vô tình khiến Cadillac trở thành thương hiệu xe hạng sang duy nhất còn lại trên thị trường. (Giá chiếc xe Cadillac rẻ nhất lúc đó là 1.445 USD và Packard là 927 USD).
Sau khi kinh tế phục hồi, thương hiệu Packard càng tụt lại phía sau. Năm 1950, Cadillac vượt mặt Packard. Năm 1957, Packard phá sản và Cadillac trở thành ông vua của dòng xe hạng sang tại Mỹ.
Tuy nhiên, sau khi chiếm được ngôi vương, Cadillac lặp lại sai lầm của kẻ đã bị chính mình đánh bại.
Trong nhiều năm liền, Cadillac đã liên tục tạo ra những phiên bản giá rẻ như Cimarron và Catera. Điều này khiến Cadillac giờ nằm chông chênh giữa thương hiệu xe hạng sang và hạng trung. Không những vậy, doanh số bán hàng của Cadillac thua xa so với những thương hiệu xe hạng sang khác như Lexus, BMW hay Mercedes-Benz.
 Mẫu xe giá rẻ của Cadillac
Mẫu xe giá rẻ của Cadillac
Parkard và Cadillac là câu chuyện của rất nhiều doanh nghiệp hiện tại đang phải đối đầu. Những động thái tức thời giải quyết được những vấn đề trước mắt lại có thể làm tổn hại đến thương hiệu về lâu dài.
Lợi ích ngắn hạn luôn hủy hoại thương hiệu
Ngày nay, vị thế cao cấp của Cadillac đã bị mai một đáng kể bởi chính bước đi sai lầm của hãng.
Trong thời điểm khủng hoảng, doanh thu là điều luôn được ưu tiên số một. Điều này hoàn toàn hợp lý. Nó chỉ trở nên bất hợp lý nếu doanh nghiệp xoay chuyển chiến lược marketing ngắn hạn để phục vụ cho hoạt động bán hàng trong dài hạn, dẫn đến sự thua thiệt về mặt thương hiệu.
Trên thực tế, Cadillac đã bị 3 hãng xe hạng sang khác bỏ xa là Lexus, Mercedes – Benz và MWV.
Bạn nghĩ Cadillac sẽ làm gì khi đứng thứ 4 trong bảng xếp hạng? Tất nhiên là phải mở rộng dòng sản phẩm. “Giờ tôi chỉ còn 65%- 68% thị trường để cạnh tranh”, theo lời Mark McNabb, phó chủ tịch Cadillac-Hummer-Saab. “Lẽ đương nhiên chúng tôi cũng muốn cạnh tranh trong một thị trường rộng lớn hơn.”
Nhưng thực tế thì sao, năm vừa rồi Cadillac-Hummer-Saab chiếm 1.6% thị trường so với mục tiêu đề ra. Đây là dấu hiệu của những thương hiệu cực kỳ yếu kém.
Thị trường tiêu thụ xe sang đã mở rộng trên toàn thế giới, với người Đức tiếp tục phá kỷ lục doanh số dù suy thoái khiến thị trường châu Âu teo lại. Tăng trưởng hai con số ở Trung Quốc là bằng chứng khác về sự tăng trưởng.
Cadillac đều đang chật vật giữ cho doanh số khỏi tụt giảm. Công ty không có được sự nể trọng và khao khát từ các khách hàng dưới 50 tuổi ở nhiều thị trường - đối tượng mà họ đang thèm muốn. Tình hình này diễn ra ngay cả ở nước Mỹ, nơi BMW và Audi đang thi nhau bán xe của họ cho thế hệ trẻ với túi đầy chặt tiền.
Năm ngoái, Mercedes đã bán 295.000 chiếc xe sang ở Mỹ, BMW bán 281.000 chiếc và Audi là 139.000 chiếc, tất cả đều tăng trưởng từ 1-2% doanh số.
Trong khi đó Cadillac lại tụt mất 2% xuống còn 150.000 xe. Thương hiệu này đã bị thiệt hại nặng nề trong cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ, trong khi công ty mẹ của chúng là General Motors đang chật vật giữ cho các doanh nghiệp cốt lõi của hãng tiếp tục sinh tồn.
Cuộc khủng hoảng đã đẩy dòng xe sang của GM lùi lại tới vài năm so với các đối thủ cạnh tranh, tại thời điểm khi thị trường tiêu thụ xe sang ở các nền kinh tế mới nổi như Brazil và Trung Quốc bắt đầu cất cánh.
Tuy nhiên, hành trình trở lại cuộc đua của Cadillac cũng không hề dễ dàng. Dù có công nghệ tuyệt vời, động cơ mạnh, ghế da khâu thủ công và các chi tiết hấp dẫn khác, Cadillac vẫn không nằm trong nhóm dẫn đầu trên thị trường quốc tế.
"Thực tế ngay lúc này, bạn vẫn phải thuyết phục người ta tin rằng Mỹ vẫn có thương hiệu xe sang" - Jeremy Anwyl, một nhà phân tích ở trang Edmunds.com chuyên về ngành công nghiệp ô tô cho biết.
Với giá 50.000 USD mỗi chiếc Cadillac, người mua những chiếc xe này sẽ khó có thể khoe khoang rằng đây là thương hiệu xe sang với hàng xóm hoặc những người ngắm nhìn chiếc xế của họ. "Với một chiếc Mercedes, anh không cần phải giải thích vì sao mình lại mua chiếc xe này" - Anwyl nói.
Giám đốc General Motors Mark Reuss thừa nhận rằng thách thức là rất lớn. "Sẽ phải mất nhiều thời gian... chúng tôi sẽ tiến từng bước một" - ông nói.
Nhưng công bằng mà nói, Cadillac chưa từng có các động thái chinh phục người mua trẻ tuổi. "Tại nhiều nơi, người ta thậm chí còn không hề biết tới thương hiệu Cadillac." - Reuss thừa nhận với AFP
Lối đi nào cho Cadillac?
Sẽ không phải nói quá khi cho rằng Cadillac đang loay hoay và mù mịt trên con đường trở lại chính mình khi hầu hết các dòng xe mới của hãng không được khách hàng chào đón như kỳ vọng.
Cadillac thay đổi chiến lược bằng việc giới thiệu ATS, mẫu xe sedan 4 cửa với giá dao động từ 33.000-55.000 USD. Ngoài ra, hãng cũng đã giới thiệu chiếc xe lai xăng điện ELR, với các đường nét thể thao và khả năng chạy tới 480km nhờ bộ pin gắn trên xe.
Tuy nhiên cả hai dòng xe này vẫn chưa hoàn hảo như những chiếc xe sang của Đức và thiếu các chi tiết gây sốc thường có ở các xe thể thao hạng sang, để có thể thu hút người mua.
 Mẫu Escalade mới nhất của hãng
Mẫu Escalade mới nhất của hãng
Mới đây, phát biểu trên Branchannel, giám đốc marketing của Cadillac cho biết hãng rất tự tin và tỏ ra lạc quan về dòng sản phẩm mới mang tên Escalade SUV – một mẫu xe khác với những chiếc SUV thường về mặt thiết kế hay tinh thần, đồng thời sở hữu tính biểu tượng xuyên suốt của Cadillac.

Nhưng dường như, khách hàng thậm chí đã quên mất cả tính biểu tượng của Cadillac, quên luôn cả vì sao thương hiệu này lại sa lầy đến vậy?
Thư Anh
Theo Trí Thức Trẻ

Thứ Sáu, 20 tháng 11, 2015

BMW – Phần 1 – Những bước ngoặt của thương hiệu BMW

BMW AG (Bayerische Motoren Werke) là hãng sản xuất xe hơi, mô tô của Đức. BMW AG được thành lập từ 3 hãng khác nhau; Rapp Motorenwerke, Bayerische Flugzeugwerke (BFw) ở Bavaria và Fahrzeugfabrik Eisenach ở Thuringia.

BMW AG còn được gọi với tên vắn tắt là BMW, thành lập vào ngày 07.03.1916. Ngày nay, BMW có trụ sở chính đặt tại Munich, Bavaria, Đức.
BMW cũng sỡ hữu thương hiệu Mini và là công ty mẹ của hãng Rolls-Royce Motor Cars. Trong năm 2010, tập đoàn BMW sản xuất 1.481.253 xe ô tô và 112.271 xe mô tô trên tất cả các thương hiệu của mình.
BMW là 1 trong 3 hãng lớn nhất bên cạnh Audi và Mercedes-Benz tại Đức.
Lịch sử hình thành
Về nhà sáng lập Gustav Otto Flugmaschinenwerke
Gustav Otto (12.01.1883 – 28.02.1926), ông là con trai của nhà phát minh động cơ đốt trong, Nikolaus August Otto. Gustav Otto là một phi công tiên phong ở Bavaria.
Gustav-Otto
Gustav Otto bên cạnh động cơ máy bay Argus
Năm 1910, Otto được cấp giấy phép bằng lái máy bay, khi ấy ông điều khiển chiếc máy bay 2 tầng cánh Aviatik. Trong cùng năm đó, Otto thành lập một trường đào tạo và nhà máy sản xuất động cơ máy bay Gustav Otto Flugmaschinenwerke năm 1913, nằm trên đường Lerchenauer Strasse, phía đông của quân trường Oberwiesenfeld ở Milbertshofen, Munich.
Otto đang tập trung xây dựng chiếc máy bay 2 tầng cánh Farman và trở thành nhà cung cấp chính cho Royal Bavarian Flying Corps.
otto-worke2_600
Nhà máy sản xuất động cơ máy bay Gustav Otto Flugmaschinenwerke
Gustav Otto Flugmaschinenwerke đổi tên thành Otto Werke vào tháng 01 năm 1915. Hãng đã không nhận được đơn đặt hàng từ quân đội Phổ do vấn đề chất lượng không được đảm bảo. Quân đội Phổ kêu gọi Otto sửa đổi dây chuyền sản xuất của mình nhưng các vấn đề vẫn không giải quyết được. Sự căng thẳng của thời chiến đã tạo áp lực quá lớn lên Gustav. Trong năm 1915, ông được đưa vào bệnh viện tâm thần ở Munich để điều trị chứng trầm cảm lâm sàng.
otto-worke
Gustav Otto Flugmaschinenwerke sau khi đổi tên thành Otto Werke
Khó khăn về mặt tài chính, công ty Otto Werke đã được mua bởi một tập đoàn, trong đó có MAN AG, cũng như một số ngân hàng vào tháng 02 năm 1916.
Gustav Otto cũng sở hữu một công ty khác có tên là AGO Werke, được thành lập vào năm 1914 để phát triển các loại máy bay khác của Otto-Werke nhưng AGO Werke cũng gặp khó khăn về tài chính giống như Otto Werke nên đã phải đóng cửa vào năm 1918. Năm 1926, từ những thất bại trong kinh doanh, cái chết của vợ và các vấn đề sức khỏe, Gustav Otto đã tự tử ở tuổi 43.
Bayerische Flugzeugwerke (BFw)
Một tháng sau khi mua Otto Werke, các nhà đầu tư thành lập một doanh nghiệp mới, Bayerische Flugzeugwerke AG (BFw). BFw sản xuất máy bay theo giấy phép của Flugzeugwerke Albatros (Flugzeugwerke Albatros là nhà sản xuất máy bay nổi tiếng nhất của Đức, cung cấp cho lực lượng không quân Đức trong Thế chiến I). Chỉ trong vòng một tháng xếp đặt, công ty đã có thể cung cấp máy bay cho quân đội Phổ và Bavaria.
Tuy nhiên, vấn đề chất lượng lại bắt đầu với phi hành đoàn không quân Đức, thường xuyên bị phàn nàn về khuyết điểm nghiêm trọng từ các động cơ đầu tiên của BFw. Điều này cũng đã từng xảy ra với máy bay được sản xuất dưới thời Otto Werke. Những thiếu sót này là do sự thiếu chính xác trong sản xuất. Phần lớn lực lượng lao động của BFw đều từ Otto Werke. Việc thay đổi tổ chức và giám sát dây chuyền lắp ráp chuyên sâu hơn đã giải quyết những vấn đề này vào cuối năm 1916. Trong những tháng sau đó, BFw đã có thể sản xuất hơn 100 máy bay mỗi tháng với lực lượng lao động khoảng 3.000 người và vươn lên trở thành nhà sản xuất máy bay lớn nhất ở Bavaria.
Sự kết thúc của cuộc chiến tranh đã làm cho BFw gặp khó khăn vì nhu cầu cho máy bay quân sự bị sụt giảm nặng. Người quản lý công ty buộc phải tìm các sản phẩm mới để tồn tại. Bởi vì máy bay phần lớn được xây dựng từ gỗ vào thời điểm đó, BFw được trang bị các nhà máy mộc hiện đại và vật liệu đủ để sản xuất 200 máy bay,. Công ty sử dụng các máy móc thiết bị và nguyên vật liệu để sản xuất đồ nội thất và nhà bếp.
Ngoài ra, từ năm 1920 trở đi, hãng cũng cho ra đời chiếc xe đạp có gắn động cơ được gọi là Flink và xe gắn máy Helios.
BFw Flink
BFw Flink đời 1920 với kiểu dáng như một chiếc xe đạp nhưng được trang bị thêm động cơ 2 kỳ, dung tích 148cc. Flink được sản xuất từ năm 1920-1922
BFw Helios_1920_tinoto
Chiếc BFw Helios được trang bị động cơ của BMW M2B15
BFw Helios_1920_tinoto2Helios
Rapp Motorenwerke
Năm 1913, Karl Friedrich Rapp thành lập Rapp Motorenwerke gần Oberwiesenfeld. Rapp đã chọn địa điểm gần Gustav Otto Flugmaschinenwerke (Otto Werke), người mà ông đã ký hợp đồng để cung cấp động cơ máy bay loại 4 xy-lanh.
Karl_Friedrich_Rapp
Karl Friedrich Rapp (24.09.1882 tại Ehingen – 26.05.1962 tại Locarno)
Rapp Motorenwerke
Nơi làm việc của những người thợ tại Rapp Motorenwerke
Rapp Motorenwerke_01
Rapp cũng ký hợp đồng phụ với Austro-Daimler để sản xuất động cơ máy bay V12 của họ. Austro-Daimler vào thời điểm đó không thể sản xuất đủ để đáp ứng nhu cầu về động cơ V12 này. Nhân viên giám sát sản xuất động cơ tại Austro-Daimler thay mặt cho chính phủ Áo là Franz Josef Popp, được ủy quyền để giám sát chất lượng động cơ tại Rapp Motorenwerke.
Franz-Josef-Popp
Franz Josef Popp (14.01.1886 tại Vienna – 29.07.1954 tại Stuttgart)
Popp không chỉ làm tốt vai trò của người giám sát mà còn tích cực tham gia trong việc quản lý tổng thể của công ty. Vào ngày 07 tháng 03 năm 1916, Rapp Motorenwerke trở thành Bayerische Motoren Werke GmbH (đây được xem là mốc thời gian thành lập của hãng BMW). Popp thuyết phục Karl Friedrich Rapp nhận Max Friz (kỹ sư thiết kế động cơ máy bay tại Daimler) vào làm.
Max-Friz
Nhà thiết kế huyền thoại Max Friz (01.10.1883 tại Urach – 09.06.1966 tại Tegernsee)
Lúc đầu, Karl Friedrich Rapp không đồng ý nhưng Popp đã thuyết phục Karl Friedrich Rapp chấp nhận Max Friz, bởi vì ông biết Rapp Motorenwerke cần phải có một nhà thiết kế. Trong vòng vài tuần, Friz đã chế tạo ra động cơ máy bay với bộ chế hòa khí mới và một loạt các chi tiết kỹ thuật khác cao cấp hơn bất kỳ động cơ máy bay khác trước đây của Đức.
Bayerische Motoren Werke GmbH 1917
Năm 1917, Karl Friedrich Rapp có vấn đề về sức khoẻ cũng như trong việc thiếu khả năng quản lý nên ông đã rời khỏi công ty. Sau đó, công ty được tái thiết lại với tên BMW GmbH. Max Friz chịu trách nhiệm về mặt phát triển kỹ thuật còn Franz Josef Popp được bổ nhiệm làm Giám đốc điều hành vào ngày 04.10.1917. Popp giữ vị trí này cho đến khi ông nghỉ hưu vào năm 1942.
Ngày 13.08.1918 BMW GmbH (Công ty trách nhiệm hữu hạn BMW) đã chuyển thành BMW AG (Công ty cổ phần BMW) như chúng ta biết ngày nay.
Sau khi bán và rời khỏi Rapp Motorenwerke, Karl Friedrich Rapp trở thành kỹ sư trưởng của THE Riedlinger Machine Factory, ông làm việc tại đây tới tháng 10.1923. Sau đó, năm 1934 Karl Friedrich Rapp chuyển đến sống tại Thụy Sĩ, nơi ông đam mê với việc nghiên cứu năng lượng mặt trời. Ông mất vào năm 1962 tại Locarno, Thụy Sĩ.
Vinh quang thời tiền chiến
Trong thời gian của năm 1917 và 1918, kỹ sư Max Friz đã tạo nên tiếng tăm cho BMW qua phát minh động cơ máy bay với bộ chế hòa khí mới có thể hoạt động ở độ cao và được làm mát bằng nước. Thiết kế mới này giúp BMW nhận được đơn đặt hàng hơn 2.000 động cơ từ Bộ chỉ huy Lục quân Phổ.
Thời hậu chiến
Vào ngày 13 tháng 09 năm 1919, Franz Zeno Diemer thiết lập một kỷ lục thế giới về độ cao với chiếc máy bay chở khách Junkers F.13 được hỗ trợ bởi động cơ BMW IIIa, đã chở tổng cộng 8 ​​người và bay ở độ cao 6.750m.
BMW-IIIa_tinoto01
Động cơ BMW IIIa được ứng dụng bộ chế hòa khí mới do kỹ sư Max Friz chế tạo, cho công suất 180 mã lực, nó hoạt động tốt ở độ cao và được làm mát bằng nước.
BMW-IIIa_tinoto02Junkers-F-13
Junkers F.13 là loại máy bay vận tải được chế tạo hoàn toàn bằng kim loại đầu tiên trên thế giới
junkersf13_tinoto0110
Chiến tranh kết thúc và Hiệp ước Versailles được ký kết (28.06.1919) thì đó cũng là thời điểm đặt dấu chấm hết của BMW; Hiệp định Hòa bình Versailles có điều khoản cấm sản xuất động cơ máy bay ở Đức trong vòng 5 năm.
BMW – Bắt đầu một khởi đầu mới
Năm 1923, tại nhà máy Eisenach mới được xây dựng gần sân bay Munich. Chiếc mô tô đầu tiên của BMW R32 được ra mắt. BMW sản xuất 3.090 chiếc R32 trong suốt 3 năm. Sau chiến tranh thế giới thứ I, thương hiệu xe mô tô của BMW được biết với tên là BMW Motorrad.
BMW_R32_1923_005
Chiếc BMW R32 năm 1923 dẫn động bánh sau bằng trục lap
BMW_R32_1923_009BMW_R32_1923_01
R32 sử dụng động cơ phẳng kép nằm ngang đặt trên khung dạng ống kép, động cơ 2 xy-lanh với dung tích 494cc cho công suất 8.5hp tại vòng tua máy 3.300 vòng/phút, tốc độ tối đa 95km/h
BMW_R32_1923_003
Bảng đồng với nét thiết kê đơn sơ trên R32
BMW_R32_1923_001
BMW_R32_1923_091
Bộ đo công-tơ-mét rất đẹp, được dẫn động bằng dây curoa qua pu-ly bánh trước
BMW_R32_1923_002
Vào năm 1928, BMW mua hãng Fahrzeugfabrik Eisenach và năm 1928 cũng là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử BMW. Sản xuất tại nhà máy Fahrzeugfabrik Eisenach, chiếc Dixi 3/15 PS DA-1 ra đời, đánh dấu sự khởi đầu trong việc sản xuất ô tô của BMW. Dixi 3/15 PS DA-1 được chế tạo theo bản quyền của Austin và cũng giống các mẫu Bantam tại Mỹ và Datsun tại Nhật.
Dixi 3-15-PS DA-1
Chiếc Dixi đầu tiên sử dụng mui có thể mở được, được trang bị động cơ 4 xy-lanh, dung tích 747cc cho công suất 15hp, tốc độ tối đa khoảng 80km/h, kết hợp với hộp số tay 3 cấp.
Dixi 3-15-PS DA-1_tinoto01Dixi 3-15-PS DA-1_tinoto02
Năm 1929 một phiên bản cải tiến được ra đời, chiếc DA2 với khung gầm hoàn toàn bằng thép và trang bị hệ thống phanh ở 4 bánh. Năm 1930, chiếc Dixi đã giành được chiến thắng đầu tiên trên đường đua.
Tổng sản lượng mẫu xe này được sản xuất lên tới 18.976 chiếc.
315_da2_3
DA2 vẫn được lắp động cơ 4 xy-lanh, dung tích 747cc cho công suất 15 mã lực
Dixi 3-15-PS DA-2
Năm 1932 là năm ra đời mẫu BMW AM4 (Ausfuhrung Munchen 4 Gange – Munich Version 4 Speeds) – mẫu xe đầu tiên được phát triển hoàn toàn bởi BMW đi vào sản xuất.
AM4 còn được gọi với tên 3/20 PS, là thế hệ kế tiếp của Dixi. BMW AM4 trang bị động cơ 4 xy-lanh, dung tích 782cc cho công suất 20 mã lực tại vòng tua máy 3.500 vòng/phút và tốc độ tối đa 80km/h.
BMW 320 PS
BMW 3/20 PS (AM4) được xuất xưởng từ 1932-1934, với 7.215 chiếc.
Năm tiếp theo, 1933, đánh dấu sự ra đời của mẫu Sedan 303 – mẫu xe đầu tiên của BMW trang bị động cơ 6 xy-lanh mạnh mẽ, điểm đặc biệt này đã trở thành đặc trưng và luôn là tuỳ chọn đối với những chiếc xe của BMW cho đến ngày nay.
1933-Sedan 303_01
Mẫu 303 cũng là chiếc BMW đầu tiên trang bị lưới tản nhiệt hình quả thận đối xứng và nó đã trở thành nét đặc trưng đầy quyến rũ của thương hiệu BMW.
1933-Sedan 303
Với khung làm bằng thép ống, hệ thống treo trước độc lập và truyền động bánh răng, 303 đánh dấu mốc quan trọng trong thành tựu công nghệ. Động cơ 1.173cc cho công suất 30hp. Tốc độ tối đa 90km/h.
1933-Sedan 303_02
Năm 1934, BMW cho ra đời chiếc 315-1 Roadster rất sang trọng. 315-1 Roadster lắp động cơ 6 xy-lanh, dung tích 1.5L cho công suất 40 mã lực. Tốc độ tối đa khoảng 125km/h.
315-1 Roadster_tinoto_01
BMW 315-1 Roadster đã giành chiến thắng ở trận đua 2.000km trên toàn nước Đức
315-1 Roadster_tinoto_02
315-1 Roadster_tinoto_001
Phần mui mềm để bảo vệ nội thất rất thú vị của BMW 315-1 Roadster
Vào năm 1936, BMW 328 được ra mắt. Đây là mẫu xe nổi tiếng nhất trong lịch sử BMW (body kit của 328 được thiết kế bởi Peter Szymanowski) và là chiếc BMW thể thao được yêu thích nhất thời kỳ trước Thế Chiến Thứ 2, là thế hệ kế tiếp của 315/1 (1934-1936).
BMW 328 được chế tạo chủ yếu để tham gia các giải đua, nơi nó chứng tỏ khả năng của mình bằng chiến thắng giải Mille Miglia tại Italy năm 1938 nhưng sau đó, 328 cũng trở nên nổi tiếng trên cả đường trường.
bmw_328_002
BMW 328 lắp động cơ 6 xy-lanh, dung tích 1.971cc cho công suất lên tới 79 mã lực tại vòng tua máy 5.000 vòng/phút và đạt tốc độ tối đa 150km/h. Tổng cộng chỉ có 464 chiếc 328 được xuất xưởng từ năm 1936-1940.
bmw_328_001
Trọng lượng của 328 chỉ 830kg, nhờ cấu trúc khung gầm hình ống bằng chất liệu cực nhẹ và các bộ phận được chế tạo bằng hợp kim nhẹ như; capô, cửa và đuôi xe.
Thông tin về phiên bản kỷ niệm 75 năm mẫu BMW 328 ra đời; BMW 328 Hommage
Vào ngày 23.05.2011, BMW đã giới thiệu chiếc 328 Hommage tại Mille Miglia, Italy. Kiểu dáng 328 Hommage vừa hiện đại vừa mang nét cổ điển, được thiết kế bởi hai nhà thiết kế người Đức Fritz Fiedler và Rudolf Schleicher.
bmw-328-hommage-003
BMW 328 Hommage kỷ niệm 75 năm mẫu BMW 328 ra đời
BMW chưa tiết lộ chi tiết về thông số kỹ thuật của 328 Hommage. Chỉ biết 328 Hommage sẽ được trang bị động cơ 6 xy-lanh, dung tích 3.0L.
bmw-328-hommage-0091
Bộ La-zăng chế tạo bằng sợi carbon
bmw-328-hommage-00121
Karl Baumer giám đốc điều hành BMW Group Classic cho biết: “Với 328 Hommage, chúng tôi muốn bày tỏ lòng kính trọng niềm đam mê và sáng tạo với những người đã khai sinh ra mẫu BMW 328, họ đã tạo ra một bước ngoặt lớn trong ngành công nghiệp ô tô”.
BMW_328-Hommage-Concept-001
Mẫu BMW 328 được xuất xưởng những năm 1936-1940 với tổng cộng 464 chiếc
bmw-328-hommage-004
Phần nội thất thiết kế quá tinh xảo và nổi bật
bmw-328-hommage-001BMW-328-Hommage-4
Nội thất bọc da và nhiều chi tiết động cơ được lấy cảm hứng từ 328
bmw-328-hommage-002
Khóa đai an toàn được làm từ nhôm và sợi carbon
bmw-328-hommage-004-lg
BMW 328 Hommage có trọng lượng khoảng 780kg, bởi phần lớn ngoại thất và nội thất được chế tạo bằng hổn hợp nhựa và sợi carbon
bmw-328-hommage-005
Nội thất có thể chịu được nước mưa nên bạn yên tâm nhé!
BMW lại ghi danh mình vào sách kỷ lục thế giới vào ngày 28 tháng 11 năm 1937. Ernst Jakob Henne trên chiếc xe hai bánh được trang bị động cơ dung tích 500cc, công suất 108 mã lực đã trở thành người đàn ông nhanh nhất thế giới với tốc độ 279.508 km/h trên đường cao tốc Frankfurt-Darmstadt. Kỷ lục này được giữ đến 14 năm sau đó.
ernst_henne
Ernst Jakob Henne (22.02.1904 – 23.05.2005) bên chiếc mô tô mà ông đã lập kỷ lục với tốc độ 279.508 km/h
BMW motor01
Không tìm thấy tài liệu của BMW đề cập về chiếc mô tô này. (Nếu bạn biết thông tin về mẫu mô tô này thì bình luận bên dưới để bổ sung vào bài viết cho hoàn chỉnh nhé!). Ảnh: Stkone
BMW motor
Ảnh: Stkone
Thành công đã không ở lại lâu dài với BMW. Năm 1939, Chiến tranh thế giới lần II bùng nổ, BMW trở thành nhà sản xuất xe máy và động cơ máy bay chuyên dụng cho quân đội Đức.
Khi chiến tranh kết thúc năm 1945 cũng là lúc những nhà máy ở Đông Đức bị phá huỷ nặng nề, còn ở Munich quang cảnh trở nên hoang tàn và đổ nát. Một lệnh cấm mọi hoạt động sản xuất trong suốt 3 năm do lực lượng Đồng Minh đặt ra nhằm trừng phạt việc BMW đã sản xuất động cơ máy bay và tên lữa trong thời chiến.
Luân Trần